Hiển nhiên là nhà đầu tư sẽ ít chắc chắn về lợi tức kỳ vọng từ khoản đầu tư này hơn là lợi tức từ khoản đầu tư ở ví dụ 1 với một khả năng xảy ra về lợi tức.
Ví dụ 2: Một khoản đầu tư với 10 tình huống có thể xảy ra từ -40% cho đến 50% và xác suất xảy ra các tình huống là bằng nhau. Ví dụ này được minh họa bằng biểu đồ sau:
Trong trường hợp này số lượng lợi tức trải rộng theo tỷ lệ xác suất, tỷ lệ lợi tức kỳ vọng [E(R1)] của khoản đầu tư sẽ là:
E(R1) = (0,10)(-0,40) + (0,10)(-0,30) + (0,10)(-0,20) + (0,10)(-0,10) + (0,10)(-0,0)
+ (0,10)(0,10) + (0,10)(0,20) + (0,10)(0,30) + (0,10)(0,40) + (0,10)(0,50) = 0.05
Tỷ lệ lợi tức kỳ vọng của khoản đầu tư này bằng với khoản đầu tư có lợi tức chắc chắn ở ví dụ 1, nhưng trong trường hợp này, nhà đầu tư chịu sự rủi ro cao về tỷ lệ lợi tức thực nhận. Nó có thể coi là một khoản đầu tư mạo hiểm do sự không chắc chắn này. Chúng ta có thể thấy rằng nhà đầu tư phải đối mặt với sự lựa chọn giữa khoản đầu tư mạo hiểm và khoản đầu tư chắc chắn – đương nhiên nhà đầu tư sẽ chọn phương án chắc chắn. Sự kỳ vọng trên dựa vào quan điểm cho rằng phần lớn các nhà đầu tư không thích rủi ro (risk averse), điều này có nghĩa là khi tất cả các điều kiện là như nhau, họ sẽ chọn cái nào ít rủi ro hơn.
Trên là bài viết các cách thức đo lường lợi tức được thể hiện thông qua bài viết trên dành cho các bạn chưa có kiến thức về đầu tư tham khảo, nếu bạn là nhà đầu tư thì không thể bỏ qua khóa học kế toán online thực hành 1 kèm 1